ĐIỂM DU LỊCH LÀNG QUÊ YÊN ĐỨC

Bạn đánh giá: 2 / 5

Ngôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực
 

I. ĐẶC ĐIỂM : 

1. Tên điểm du lịch :
- Tên tiếng Việt: Làng quê Yên Đức
- Tên tiếng Anh: Yen Duc Village
2. Vị trí: Thôn Yên Khánh, xã Yên Đức, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
3. Cấp hạng đề nghị: Điểm du lịch địa phương.

II. TIỀM NĂNG DU LỊCH CỦA LÀNG QUÊ YÊN ĐỨC
1. Đặc điểm tự nhiên:
- Vị trí địa lý: Cách trung tâm thị xã Đông Triều gần 20 km, điểm du lịch làng quê Yên Đức nằm trên địa bàn thôn Yên Khánh, xã Yên Đức, thị xã Đông Triều.
- Diện tích: 72,26 ha
- Đơn vị quản lý: UBND xã Yên Đức.
- Đặc điểm tự nhiên: Làng quê Yên Đức chỉ cách quốc lộ 18A chưa đầy 2km nhưng gần như tách biệt hẳn với cuộc sống thành thị náo nhiệt. Mùa nước nổi, làng quê Yên Đức với những rặng cau cao vút in bóng xuống mặt nước như một bức tranh thủy mặc.
Cũng giống như bao làng quê Bắc Bộ khác trên dải đất hình chữ S, Yên Đức cũng có những rặng tre, hàng cau thẳng tắp, những ngôi nhà mang dáng dấp cổ kính, những ao hồ nho nhỏ giữa làng, những người nông dân hiền hậu.
2. Tiềm năng du lịch:
Tới thăm Yên Đức, ngoài việc tham quan cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch sử, văn hóa, du khách còn có dịp vào tận nhà người dân để tìm hiểu về kiến trúc nhà ở truyền thống, truyền thống gia đình, phong tục thờ cúng tổ tiên, các sinh hoạt văn hóa cộng đồng (các lễ hội, các làn điệu dân ca, dân vũ như: chèo, quan họ, múa rối…), tìm hiểu nghề làm quạt, làm chổi và trải nghiệm đời sống nông nghiệp mang tính làng xã (chủ yếu là tự cung tự cấp) thông qua hoạt động làm vườn, thu hoạch rau quả, câu cá, mò cua, bắt ốc... Điểm thú vị là du khách tự mình đạp xe thưởng ngoạn không khí trong lành, hít hà mùi lúa mới, băng qua những con đường thẳng tắp hàng cau hay len lỏi qua những ngõ nhỏ chỉ đủ vừa một chiếc xe đạp.
Đi sâu khám phá thêm, vùng quê này còn có hệ thống di tích lịch sử ghi dấu ấn vùng đất cách mạng anh hùng với Núi Canh, núi Đống Thóc, núi con chuột, núi con mèo, Hang 73, chùa Cảnh Huống. Mỗi di tích đều mang một giá trị lịch sử, cách mạng, văn hóa riêng không chỉ có giá trị thắng cảnh tuyệt đẹp mà còn gắn liền với mỗi di tích là một truyền thuyết dân gian có liên hệ khăng khít mật thiết với nhau nhưng không thể tách rời.
- Di tích núi Canh: Do các ngọn núi của làng Yên Khánh và làng Đồn Sơn tạo thành giống như hình cái cày, tạo thành bức tường thành trấn ải cửa ngõ Đông Bắc của xã. Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước đứng trên đỉnh núi Canh có thể bao quát toàn bộ các khu vực xung quanh, các trạm canh gác trên núi được xây dựng nên núi Canh còn có nghĩa là Canh gác.
Tại núi Canh, từ xa xưa Trần Nhân Tông đã chọn nơi đây để chỉ huy tầm xa chiến trận Bạch Đằng Giang lần thứ 2 ( 1285). Thời kỳ chống giặc phương Bắc Yên Đức cũng gắn liền với quá trình dựng và giữ nước của dân tộc. Vào thời kỳ kháng chiến chống Pháp núi Canh đã từng là căn cứ kháng chiến của nghĩa quân Yên Thế, là kho dự trữ lương thực, thực phẩm phục vụ kháng chiến. Cũng từ chiến dịch này các ngõ ngách, hang động trên núi Canh được khơi thông với những tên tuổi sống mãi với non nước như: Hang gốc Bòng, hang gốc Gạo, hang Luồn ... Hang 73 ở phía Tây núi - nơi ghi dấu tội ác tày trời của thực dân Pháp đã giết và hun chết 106 người, trong đó có 73 chiến sỹ, cán bộ, đồng bào ta chung một mộ. Mỗi hang đều gắn liền với những chiến công hiển hách, đã đi vào lịch sử với những chiến thắng vĩ đại trong lòng nhân dân Yên Đức.

- Di tích núi Đống Thóc: Nằm trong lòng quần thể núi Yên Đức, một bên là núi Thung, một bên là núi Con Mèo. Núi có hình thù giống như một đống thóc vừa to vừa đầy. Với cư dân nông nghiệp nó là biểu tượng cho sự phồn thịnh, no đủ, sung túc, sự trù phú của làng quê Việt Nam.
- Di tích núi Con Chuột: Nằm cuối cùng về phía Nam trong cụm di tích trên bãi nổi giữa ngã ba sông đá Bạch, sông Kinh Thầy, sông Đá Vách, hình thù giống như một con chuột đang rình phá thóc, nhưng bị núi Con Mèo ngăn chặn. Trong truyền thuyết núi Con Chuột biều tượng của thế lực gian tà trên cả nghĩa rộng, nghĩa hẹp. Phá hoại thành quả của con người.
- Di tích núi Con Mèo: Còn có tên là Ngọa Miêu Sơn, có hình thể giống như con mèo đang nằm rình chuột, chặn chuột để bảo vệ đống thóc, bảo vệ thành quả của con người. Và nó cũng là biểu tượng bảo vệ cho sự an bình thịnh vượng sự trường tồn của non sông đất nước. Đây cũng là địa điểm chỉ huy tầm xa chiến trận Bạch Đằng Giang chống quân Nguyên Mông xâm lược lần thứ 2 (1285). Di tích được liệt vào một trong những danh sơn của vùng Đông Bắc. trong vòm hang có một số bài thơ chữ Nôm, chữ Hán, chữ Quốc Ngữ, trong đó có bài thơ Nôm nổi tiếng mang dòng chữ " Nhân tộn Hoàng đế ngự đề. niên hiệu trùng tu bát niên xuân". Tuy nhiên hiện nay chỉ còn duy nhất vòm hang núi, thân đầu con mèo đã bị tàn phá.

- Di tích núi Thung: Nằm về phía Tây của quần thể di tích. Thung có nghĩa là cối giã gạo, dưới chân núi là tường đá bao quanh. Xưa kia ở phía Đông ngọn núi có ngôi chùa Cảnh Huống được trùng tu lớn nhất vào năm 1694, nhưng vào năm 1980 - 1982 chùa bị phá hủy hoàn toàn chỉ còn lại bài thơ khắc vào đá và một tấm bia tạc ở khe đá núi Thung, đến năm 1994 - 1995 chùa được khôi phục lại.
Phía Đông núi còn lại một ngôi tháp cao ba tầng, phía Nam còn lại một cổng được gọi là cổng Thung, hai tầng xây bằng gạch đỏ. phía Nam chân núi có Chùa Một mái, có một phiến đá rộng tạo thành một cửa hang nhân dân lập ban thờ, phía ngoài xây tường mở rộng trước cửa, bên trong còn có một số pho tượng, đặc biệt chú ý là còn duy nhất một cuốn thư sơn son thếp vàng với 4 chữ Hán nổi: Thị ứng xương kỳ; bên trái chùa Một mái là đền thờ 8 vị thủy tổ có công khai dân lập làng được sửa lại năm 1987, bên phải chùa là một giếng nước ngọt, có bài thơ viết bằng chữ Hán khắc vào vách núi kể về sự kiện năm hạn hán đào cái giếng này, bài thơ khắc niên hiệu: Khải Định tam niên tam nguyệt, cạnh giếng nước là lầu bình thơ được xây dựng vào thế kỷ XIX trên một tảng đá nổi về phía Tây Nam núi, kiến trúc cửa vòm 4 cửa thông, trong có hai bài thơ viết bằng mực tàu trong cuốn thư trên vách lầu.
Di tích núi Thung ngoài ý nghĩa là một danh thắng, tên tuổi gắn với tiềm thức của cư dân nông nghiệp lúa nước mà còn là nơi ghi dấu sự kiện lịch sử văn hóa, lưu giữ nhiều văn bia chữ Hán trải qua quá trình dựng và giữ nước.

3. Các loại hình dịch vụ
- Đường giao thông đến điểm du lịch: Cách trung tâm thị xã Đông Triều gần 20km về phía Đông. Tuyến đường được bê tông hóa thuận lợi cho du khách di chuyển bằng nhiều loại phương tiện. Tại đây du khách có thể di chuyển tới các địa điểm tham quan bằng xe điện.
- Bãi đỗ xe: tại khu múa rối nước có bãi đỗ xe rộng 0,2 ha.
- Vệ sinh công cộng: Tại các điểm tham quan đều có nhà vệ sinh công cộng đảm bảo phục vụ khách du lịch.
- Phòng cháy chữa cháy, cấp thoát nước, thông tin liên lạc: Có hệ thống phòng cháy chữa cháy, cấp thoát nước, thông tin liên lạc đảm bảo phục vụ khách du lịch.
- Các dịch vụ khác đáp ứng yêu cầu của khách du lịch: tại điểm du lịch làng quê Yên Đức có khu nhà nghỉ với 04 phòng nghỉ đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch. Bên cạnh đó tại các điểm tham quan có đều có dịch vụ phục vụ nhu cầu ăn uống tại chỗ của du khách
4. An ninh, an toàn, trật tự, vệ sinh môi trường:
- Công tác an ninh: Có phương án đảm bảo an ninh an toàn cho du khách và người dân đến tham quan.
- Công tác vệ sinh môi trường: Thực hiện dọn vệ sinh hàng ngày. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về đảm bảo vệ sinh môi trường đến người dân và khách tham quan.
5. Lượng khách du lịch đến làng quê Yên Đức:

  ĐVT Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015
Tổng Lượt khách   11.320 22.800 25.250

Từ thực tế trên, điểm du lịch làng quê Yên Đức có đủ tiêu chí của điểm du lịch địa phương: là điểm tham quan hấp dẫn du khách và có kết cấu hạ tầng đảm bảo phục vụ trên 10.000 lượt khách hằng năm; đồng thời để công tác quản lý, đầu tư nâng cấp thường xuyên đi vào nề nếp cũng như đảm bảo môi trường, an ninh trật tự, và an toàn cho du khách, đáp ứng nhu cầu của khách du lịch đến tham quan tại làng que Yên Đức.

 

 

 

 

Please publish modules in offcanvas position.